Tìm hiểu về những chuẩn màn hình thông dụng hiện nay sẽ giúp bạn có được sự lựa chọn tối ưu nhất khi muốn mua một thiết bị mới.
Màn hình LCD
LCD (Liquid
Crystal Display - màn hình tinh thể lỏng) là một công nghệ màn hình
thường được sử dụng trên nhiều thiết bị. Màn hình LCD không tự tạo
ánh sáng mà phải nhờ đến đèn nền để phát sáng.
Mật độ của màn hình LCD rất thấp vì vậy trong ánh sáng mặt trời màu sắc xuất hiện rất kém. Chất lượng của màn hình LCD thay đổi tùy theo quá trình sản xuất và sử dụng, hầu hết các màn hình trên điện thoại giá rẻ hiện nay điều được làm từ màn hình LCD cung cấp màu sắc và góc nhìn rất hẹp.

Mật độ của màn hình LCD rất thấp vì vậy trong ánh sáng mặt trời màu sắc xuất hiện rất kém. Chất lượng của màn hình LCD thay đổi tùy theo quá trình sản xuất và sử dụng, hầu hết các màn hình trên điện thoại giá rẻ hiện nay điều được làm từ màn hình LCD cung cấp màu sắc và góc nhìn rất hẹp.
Màn hình TFT - LCD
Màn
hình TFT (Thin Film Transistor – bóng bán dẫn dạng phim mỏng) bắt đầu
được đưa vào smartphone vào năm 2005, có khả năng tái tạo màu tốt hơn và
độ phân giải hình ảnh cao hơn so với các màn hình LCD thế hệ trước đó.
Do chi phí sản xuất màn hình TFT đã giảm đáng kể từ sau 2005, công nghệ
màn hình này đã xuất hiện phổ biến trên điện thoại cơ bản và smartphone
giá thấp.

Tuy nhiên,
yếu điểm của màn hình TFT-LCD là góc nhìn không rộng. Điều này nghĩa là
bạn phải nhìn thẳng vào màn hình mới thấy được hình ảnh rõ nét. Bên cạnh
đó, tiêu hao pin của màn hình TFT-LCD khá cao khi so sánh với những
công nghệ màn hình mới gần đây.
Màn hình Super LCD
Super LCD là
phiên bản nâng cấp đặc biệt của TFT-LCD được biết đến như là đối thủ của
màn hình AMOLED, Super LCD có độ tượng phản tốt hơn, màu sắc sinh động
hơn và hiển thị dưới ánh sáng mặt trời dễ nhìn hơn so với màn hình
AMOLED. Tuy nhiên, màn hình này hao pin hơn so với màn hình AMOLED và có
độ sáng thấp hơn.

Màn hình IPS LCD
Màn
hình IPS bao gồm những thành phần đặc trưng của LCD, tuy nhiên điểm khác
biệt của màn hình này là các lớp tinh thể lỏng giờ đây được xếp theo
hàng ngang (đây là nguồn gốc của cụm từ "In Plane") song song với 2 lớp
kính phân cực ở trên và dưới thay vì vuông góc. Sự thay đổi này làm giảm
lượng ánh sáng tán xạ, cung cấp góc nhìn rộng và tái tạo màu sắc tốt.

Màn hình IPS
hiển thị hình ảnh với gam màu rộng hơn, thường được sử dụng trong các
thiết bị cao cấp, rất thích hợp cho thiết kế đồ họa vốn đòi hỏi khắt khe
về chất lượng hiển thị, ngoài ra màn hình IPS còn cung cấp góc nhìn lên
tới 178 độ so với phương ngang, điều này có nghĩa là người dùng không
nhất thiết phải ngồi trực diện vẫn có thể trải nghiệm hết chất lượng của
hình ảnh.
Màn hình LED-backlit IPS LCD
LED-backlit
IPS LCD ra đời dựa trên sự kết hợp giữa LCD, LED-Backlit và công nghệ
tấm nền IPS. Nói đơn giản thì nó là công nghệ dùng nhiều pixel nén trên
màn hình LED-Blacklit có góc nhìn lớn hơn nhờ tấm nền IPS (In-Plane
Switching). Các đại diện nổi tiếng sử dụng công nghệ này có
thể kể đến như iPad mini 1,2,3, iPhone 6, iPhone 6 Plus

IPS Quantum (màn hình IPS lượng tử)
IPS
Quantum được LG áp dụng lên siêu phẩm G4, thực chất là công nghệ
hiển thị mà các hãng phim đang hợp tác cùng sử dụng có tên DCI (Digital
Cinema Initiatives). Với mong muốn chuẩn hóa về mặt kĩ thuật nên những
tên tuổi lớn như Disney, Paramount, Sony và 20th Century Fox đã cùng
nhau thành lập một tiêu chuẩn là DCI. Công nghệ này tập trung vào việc
hiển thị những màu sắc mà mắt người dễ nắm bắt nhất là màu đỏ và xanh
lam, tạo ra tỉ lệ hiển thị tốt nhất.
Một màn hình
theo đúng chuẩn DCI có giá trên 6000 USD trong khi màn hình của G4 đạt
tỉ lệ 98% so với tiêu chuẩn DCI, độ chân thực đạt 98%.

Họ dùng một
loại vật liệu mới có tên Negative LC trong quá trình chế tạo tấm nền LCD
để tăng độ sáng thêm 25%, hoán đổi tinh chất phốt pho để làm màu đỏ và
xanh lục. Tóm lại là phần ánh sáng xanh lam đã được thay đổi trong quá
trình tạo ra các pixel của 3 màu cơ bản. Kết quả là độ chính xác màu sắc
được tăng cường và màn hình IPS LCD của LG có khả năng thể hiện màu đen
giống như màn hình AMOLED.
Màn hình OLED
OLED (Organic
Light Emitting Diode) là một diode phát sáng (LED), trong đó lớp phát
ra ánh sáng được làm bằng hợp chất hữu cơ. Một màn hình OLED không yêu
cầu đèn nền, do đó nó làm giảm điện năng tiêu thụ cũng như hiển thị màu
đen tốt hơn và không giống như màn hình LCD. Một trong những lợi thế của
màn hình OLED là màu sắc sống động, góc nhìn rộng hơn, cải thiện độ
sáng và hiệu quả năng lượng tốt hơn.

Màn hình AMOLED
AMOLED là
viết tắt của cụm từ "Active Matrix Organic Light Emitting Diode", tạm
dịch là "đi-ốt phát sáng hữu cơ ma trận động". Công nghệ này là một
trong những công nghệ màn hình mới có nhiều ưu thế và được đánh giá sẽ
thay thế màn hình TFT. Màn hình AMOLED hiển thị rực rỡ hơn màn hình TFT
và tiêu thụ điện thấp hơn.

So với TFT,
màn hình AMOLED có khả năng tái tạo màu rõ nét và sống động hơn, độ nét
cao hơn, màu đen đậm hơn (độ tương phản cao hơn) và góc nhìn rộng hơn.
Ngoài ra, AMOLED cũng nhẹ hơn so với màn hình TFT, giúp giảm trọng lượng
của điện thoại. Nhưng màn hình này cũng có yếu điểm là hiển thị hình
ảnh khá kém dưới ánh sáng mặt trời. Màn hình AMOLED hiện xuất hiện các
smartphone cao cấp của Samsung, HTC và Nokia.
Super AMOLED
Đây là phiên
bản khác của màn hình AMOLED do Samsung phát triển. Bằng cách kết hợp
màn cảm ứng (touch panel) và lớp kính trên cùng, Samsung đã tạo ra màn
hình có màu sắc nổi bật hơn so với các màn hình AMOLED thông thường và
có khả năng hiển thị rõ hơn dưới ánh sáng mặt trời. Công nghệ màn hình
này đã được đưa vào các smartphone cao cấp của Samsung như Galaxy S.

Super AMOLED Plus
Công nghệ này
lần đầu tiên được sử dụng trên chiếc Galaxy S II của Samsung. Điểm khác
biệt lớn nhất của công nghệ này là việc cấu trúc lại các điểm ảnh phụ,
giúp nó gần giống với màn hình LCD, đồng nghĩa với việc hình ảnh hiển
thị rõ ràng và sắc nét hơn.

Super AMOLED HD
Đây là thuật
ngữ do Samsung tạo ra, đơn giản chỉ là một bản độ phân giải cao (720 x
1.280 pixel hoặc cao hơn) của màn hình Super AMOLED. Hiện tại, Samsung
đã từ bỏ loại màn hình Super AMOLED Plus và quay trở lại công nghệ Super
AMOLED và nâng lên chuẩn HD. Loại màn hình này được sử dụng trên chiếc
Galaxy Note và Galaxy S III của hãng.

Màn hình Retina
Retina là một
thuật ngữ mang đậm tính marketing của Apple, nhằm chỉ loại màn hình
IPS-LCD có mật độ điểm ảnh cao đến mức mắt thường của người không thể
phân biệt được từng điểm ảnh riêng biệt ở góc nhìn thông thường.
Mật độ điểm
ảnh trên màn hình Retina cũng được chia ra nhiều “chuẩn” khác nhau tùy
từng thiết bị và tầm nhìn thông thường của người dùng. Chẳng hạn như với
chiếc iPhone 4S kích thước nhỏ, tầm nhìn của người dùng sẽ gần hơn nên
mật độ điểm ảnh của nó lên đến 326 ppi trong khi trên chiếc iPad mới,
mật độ này chỉ là 264 ppi.

Mobile BRAVIA Engine
BRAVIA là một
công nghệ khá nổi tiếng, được sử dụng cách đây khá lâu trên các dòng TV
của Sony. Công nghệ Mobile BRAVIA Engine được cho là thiết kế đặc biệt
để cải thiện chất lượng hình ảnh và video, tăng độ tương phản và cho màu
sắc tự nhiên nhất có thể.

NOVA
Đây cũng là
một biến thể của màn hình LCD, được LG sử dụng trên dòng Optimus Black
của hãng. Nó có khả năng cho độ sáng cực cao nhưng cực tiết kiệm điện
năng

ClearBlack
Công nghệ màn
hình này thuộc về Nokia. Nó có khả năng kết hợp các phản ứng trong tấm
hiển thị và tấm cảm ứng làm giảm phản xạ và cung cấp hiệu suất tốt hơn
nhiều khi nhìn ngoài trời. Mặc dù những lợi ích của màn hình này tương
tự như màn Super AMOLED nhưng công nghệ làm ra chúng rất khác nhau. Màn
hình này có góc nhìn tốt hơn và hiển thị màu đen tốt hơn. Hiện nay, nó
được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị Lumia của Nokia.

DVGA
là công nghệ
màn hình được Apple phát triển dựa trên công nghệ màn hình VGA tuy nhiên
loại màn hình này có độ phân giải cao hơn VGA nhiều, đạt 640 x 1136
pixels. được sử dụng trên các sản phẩm iPhone 5,iPhone 5s của Apple.
EmoticonEmoticon